Quản lý sự thay đổi là gì? là một trong những từ khóa được search nhiều nhất trên google về chủ đề quản lý sự thay đổi là gì? Trong bài viết này, genz.vn sẽ viết bài viết nói về Quản lý sự thay đổi là gì? tìm hiểu thêm về quản lí sự thay đổi.
Quản lý sự thay đổi là gì? tìm hiểu thêm về quản lí sự thay đổi.
quản lý thay đổi
Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm
thống trị cải thiện (thường được viết tắt là CM) là thuật ngữ được lựa chọn để chỉ tất cả các công thức chuẩn bị và hỗ trợ các một mình, nhóm và các đơn vị trong việc xây dựng thay đổi trong tổ chức, bao gồm các mẹo tái định dạng hay định nghĩa lại việc dùng các gốc lực, quy trình kinh doanh, phân bổ chi phí hay các chế độ vận hành không giống để refresh doanh nghiệp hoặc tổ chức. thống trị sự refresh tổ chức (OCM) xem xét all tổ chức và những gì cần cải thiện,[1] trong khi quản lý sự refresh sẽ chỉ được sử dụng để chỉ ra cách mà con người và group bị ảnh hưởng như thế nào trong quá trình chuyển đổi của đơn vị. Nó liên quan đến nhiều ngành khác nhau, từ không gian học đến khoa học hành vi, công nghệ thông tin và các giải pháp mua bán.[2]
Trong bối cảnh quản lý dự án, thuật ngữ “quản lý sự thay đổi” đủ sức được sử dụng để thay thế cho các quá trình kiểm soát refresh khi những thay đổi về phạm vi của dự án được đưa ra và được chấp nhận.[3][4]
danh mục
- 1Lịch sử
- 1.1Thập niên 60
- 1.2Thập niên 80
- 1.3Thập niên 90
- 1.4Thập niên 2000
- 1.5công đoạn 2000-2010
- 2mẹo tiếp cận
- 2.1lý do để thay đổi
- 2.2Các mô hình cải thiện
- 2.3chọn các cải thiện để thực hiện
- 2.4thống trị tiến trình cải thiện
- 2.5Các nguyên nhân để thống trị sự thay đổi thành công
- 3Thách thức
- 3.1Tích hợp
- 3.2định hướng
- 3.3Các thành phần con người
- 4giống như một ngành nghề học thuật
- 4.1Các trường ĐH
- 5xem thêm
- 6xem qua
Lịch sử[sửa | sửa mã gốc]
Thập niên 60[sửa | sửa mã gốc]NHiều mô hình, quy trình cai quản sự thay đổi dựa trên các nghiên cứu thất bại. Các nhà tư vấn thấy mỗi tương quan giữa ưu phiền về chủ đề thể trạng và sự ưu phiền của người lao động trong một tổ chức do mất việc, nhiều mô hình ban đầu vừa mới nắm bắt được toàn bộ xúc cảm của người lao động khi họ phàn nàn về những sự biến động liên quan đến công việc.
Trong công trình tìm hiểu sự lan truyền của sáng tạo Everett Rogers thừa nhận sự thay đổi được hiểu theo bối cảnh thời gian, các kênh giao tiếp và tác động của nó so với các thị trường tham dự. tư duy đặt con người vào trung tâm của sự refresh là đóng góp cơ bản để phát triển định nghĩa quản lý sự thay đổi. Ông cũng đề xuất các nhóm thích ứng mô tả mẹo con người giận dữ với những cải thiện như thế nào: Các nhà phát minh, người thích nghi trước nhất, nhóm ban đầu, nhóm sau đó và người chậm chạp.[5]
Thập niên 80[sửa | sửa mã nguồn]Julien Philips, một nhà tư vấn của McKinsey & Company đã công bố một mô ảnh thống trị sự thay đổi vào năm 1982 trên báo chí thống trị gốc lực Con người, mặc dù phải mất đến một thập niên để người đọc hiểu được công trình của anh ấy.[6]
Robert Marshak từ đó đang ghi nhận được 6 công ty kế toán và tư vấn lớn đã vận dụng các công trình của các nhà tiên phong refresh đơn vị ban đầu giống như Daryl Conner và Don Harrison, thành ra đang đóng góp cho sự hợp pháp hóa toàn bộ nền công nghiệp quản lý cải thiện khi họ đặt tên cho các dịch vụ kĩ năng của họ là cai quản sự thay đổi trong thập niên 80.[7]
Thập niên 90[sửa | sửa mã gốc]Trong quyển sách xuất bản vào năm 1993 có tựa đề thống trị Tốc độ refresh (Managing at the Speed of Change), Daryl Conner đã tạo ra thuật ngữ “nền tảng đang cháy – burning platform” dựa trên event cháy giàn khoan dầu Piper Alpha ở biển Bắc. Ông ấy đang thành lập Conner đối tác vào năm 1994, tập kết vào các kĩ năng chọn và hiệu suất con người để giúp các phát kiến công nghệ được tiếp thụ và sử dụng tốt nhất có thể.[8]
Thập niên 2000[sửa | sửa mã gốc]Linda Ackerman Anderson đã đưa ra ý kiến trong Beyond Change Management rằng các nhà lãnh đạo hàng đầu cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 ngày càng không hài lòng với sự thất bại trong việc xây dựng sự refresh theo phong cách từ trên xuống, xây dựng vai trò nhà lãnh đạo refresh để chịu trách nhiệm về mặt con người của refresh.[9] Bản Tuyên ngôn của ngành công nghiệp thống trị refresh – State of the Change Management Industry trước hết vừa mới được xuất bản trên mục tin tức nhà tư vấn – Consultants News vào tháng 2 năm 1995.[10]
giai đoạn 2000-2010[sửa | sửa mã nguồn]Ở Australia, cai quản sự refresh ngày nay được chấp thuận như một ngành nghiệp chính thức qua công việc của Christina Dean với chính phủ Australia trong việc củng cố tiêu hợp lý năng lực quốc gia và các chương trình dạy bảo từ trung học đến thạc sĩ.[11]
Để sơ sài với các báo cáo tiếp tục về sự fail tiếp tục của các chương trình cải thiện theo plan từ trên xuống quy mô lớn,[12] các nhà thực hành thay đổi sáng tạo đang báo cáo những sự phát triển khi vận dụng các nguyên tắc tinh gọn và Agile vào lĩnh lực thống trị sự cải thiện.[13][13]
Hiệp hội các chuyên gia thống trị refresh (ACMP) đang công bố một giấy chứng nhận mới để nâng cao chuyên môn: chứng nhận chuyên gia cai quản refresh (CCMP) vào năm 2016.[14]
cách tiếp cận[sửa | sửa mã gốc]
quản lý thay đổi đơn vị sử dụng một hướng dẫn tiếp cận có cấu trúc để đảm bảo rằng các thay đổi được thực hiện thuận lợi và sự phát triển để đạt được các quyền lợi lâu dài.
lý do để cải thiện[sửa | sửa mã gốc]toàn cầu hóa và sự đổi mới thường xuyên của công nghệ dẫn đến một hoàn cảnh mua bán k ngừng phát triển. Các hiện tượng như phương tiện mạng không gian và mức độ thích nghi di động đang mẹo online hóa mua bán và ảnh hưởng của việc này là nhu cầu refresh ngày càng tăng, và vì vậy cần có thay đổi quản lý. Sự phát triển về công nghệ cũng có ảnh hưởng thứ hai của việc tăng trưởng tính khả dụng và cho nên trách nhiệm giải trình kiến thức. Thông tin easy tiếp cận vừa mới kéo đến sự giám sát chưa từng thấy của các cổ đông và giới mạng và áp lực lên quản lý.
Với nơi mua bán trải qua quá nhiều cải thiện, các tổ chức phải học hướng dẫn để trở nên thoải mái hơn với sự thay đổi. vì vậy, cấp độ cai quản và thích ứng với refresh tổ chức là một yêu cầu cần thiết tại công sở bây giờ. không những thế, thay đổi đơn vị to và gấp rút là rất chông gai vì cấu trúc, văn hoá và thói quen của các tổ chức thường phản ánh một “dấu ấn” của các thời kỳ quá khứ tiếp tục và khó loại bỏ, có khả năng chống lại sự cải thiện căn bản ngay cả khi môi trường ngày nay của tổ chức cải thiện nhanh chóng.[15]
Do thành công của công nghệ, cải thiện tổ chức hiện đại phần đông được thúc đẩy bởi những đổi mới bên ngoài chứ không phải là các nguyên nhân bên trong. Khi những thành công này xảy ra, các đơn vị thích nghi nhanh nhất tạo ra lợi thế cạnh tranh cho chính họ, trong khi các công ty từ chối refresh sẽ rớt lại phía sau.[16] Hậu quả là lợi nhuận và thị phần sẽ mất đi khẩn trương.
cải thiện tổ chức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ các phòng ban và nhân sự. all công ty phải học mẹo xử lý những thay đổi đối với đơn vị. kết quả của quản lý cải thiện đủ nội lực có ảnh hưởng mạnh (tích cực hoặc tiêu cực) lên trí não nhân viên.
Các mô hình thay đổi[sửa | sửa mã nguồn]Có một số mô hình cai quản sự thay đổi:
Quy trình 8 bước của John Kotter để kéo dắt sự thay đổi

Giáo sư John P. Kotter, người đi đầu trong cai quản sự thay đổi,phát minh quy trình 8 bước kéo dắt sự cải thiện
Giáo sư John P. Kotter, Giáo sư danh dự về lãnh đạo Konosuke Matsushita, ở trường kinh doanh Harvard, vừa mới phát minh quy trình 8 bước để kéo dắt sự refresh.[17] Có 8 bước:
- xây dựng một cảm giác cấp bách
- tạo ra các link theo chỉ dẫn
- thiết lập Tầm Quan sát và chiến lược
- Giao tiếp với tầm Nhìn về sự thay đổi
- Cho phép nhân viên hoạt động trong phạm vi rộng
- xây dựng các chiến thắng ngắn hạn
- Củng cố kết quả và xây dựng nhiều sự thay đổi hơn
- Neo công thức tiếp cận mới vào trong kiến thức
Change Management Foundation và mô hìn
Change Management Foundation được định dạng như ảnh chóp với thống trị dự án thống trị mặt kĩ thuật và con người thống trị sự cải thiện ở bên dưới và sự lãnh đạo định hướng từ bên trên. Mô hình quản lý sự refresh gồm có 4 bước:
- dựng lại nhu cầu refresh
- sẵn sàng và lên kế hoạch thay đổi
- Thực hiện refresh
- Bảo vệ sự thay đổi
Chu trình Lên kế hoạch-Thực hiện-Kiểm tra-Hành động của Deming

Chu trình Plan-Do-Check-Act (PDCA) của W. Edwards Deming
Chu trình Kế hoạch-Thực hiện-Kiểm tra-Hành động, được xây dựng bởi W. Edwards Deming, là một công thức quản lý để cải thiện mẹo kinh doanh để làm chủ và update liên tục các quy trình và món hàng. Nó bao gồm bốn giai đoạn:
- Lên plan – thiết lập các mục đích và quy trình
- Thực hiện – thực hiện kế hoạch, chấp hành quy trình,tạo ra sản phẩm
- tra cứu – tìm hiểu hiệu quả thực tiễn và so sánh với kết quả mong muốn
- Hành động – ban hành các tiêu hợp lý mới[18]
lựa chọn các refresh để thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]
Khi xác định những kỹ thuật mới nhất hoặc những đổi mới để áp dụng, có bốn yếu tố chính cần được xem xét:
- mức độ, mục đích,và các chiến lược
- nền tảng đo lường
- Trình tự các bước
- Thực hiện và refresh đơn vị
quản lý công cuộc cải thiện[sửa | sửa mã nguồn]

quản lý refresh liên quan đến sự cộng tác giữa all nhân sự, từ cấp độ đầu vào đến quản lý cấp cao
Mặc dù có nhiều loại refresh đơn vị, góc cạnh phê bình là năng lực công ty để đạt được sự tin tưởng của nhân sự vào sự refresh. thống trị sự refresh đơn vị kết quả là công cuộc bao gồm 4 bước:[19]
- Nhận diện cải thiện trong hoàn cảnh mua bán rộng
- đưa ra các điều chỉnh cần thiết thích hợp với nhu cầu công ty
- huấn luyện nhân viên với những refresh thêm vào[20]
- Có sự hỗ trợ của nhân viên bằng sự thuyết phục từ những điều chỉnh thêm vào
Là một thực hành đa ngành nghề đang tăng trưởng giống như là hiệu quả của tìm hiểu học thuật, thống trị thay đổi tổ chức nên khởi đầu bằng một đánh giá có nền tảng về tình hình hiện tại để dựng lại cả nhu cầu và mức độ thay đổi. Các mục tiêu, content và quy trình cải thiện cần được định hình giống như là một phần của kế hoạch thống trị sự refresh.
tiến trình quản lý sự cải thiện cần phải được marketing sáng tạo để khuyến khích sự giao tiếp giữa những người vừa mới trong tiến trình cải thiện, cũng như có hiểu biết sâu sắc về phong cách lãnh đạo và động lực nhóm. Khi có đường hướng đang rạch ròi trong một dự án chuyển đổi, quản lý sự cải thiện sẽ điều chỉnh kì vọng của group, tích hợp vào trong các group nhỏ và cai quản việc training nhân sự. Để làm được như vây, cần phải sử dụng các tool đo hiệu suất giống như hiệu quả tài chính, hiệu quả hoạt động, cam kết của lãnh đạo và hiệu quả giao tiếp, nhu cầu thay đổi được hiểu để có kế hoạch cho chiến lược thích hợp, quyết tâm khắc phục các dự án đã có chủ đề, và tránh thất bại trong việc refresh.
Các yếu tố để cai quản sự refresh thành đạt[sửa | sửa mã gốc]cai quản refresh thành công có nhiều mức độ xảy ra hơn nếu có những điều sau đây:
- định hình mục tiêu đủ sức đo lường của các bên liên quan và xây dựng một trường hợp mua bán cho thành tích của họ (cần được update liên tục).
- Theo dõi các giả định, nguy cơ, sự lệ thuộc, chi phí, lợi tức đầu tư, ích lợi và các vấn đề văn hóa
- truyền thông hiệu quả để thông báo cho nhiều bên liên quan về lý do refresh (tại sao?), lợi ích của việc thực hiện thành đạt (những gì có trong đó cho chúng tôi và bạn) cũng như chi tiết về cải thiện (khi nào? Ở đâu? chi phí là bao nhiêu?)
- Devise an effective education, coaching and/or skills upgrading scheme for the organization.Đưa ra một chương trình dạy bảo, huấn luyện và / hoặc nâng cấp kỹ năng cho đơn vị
- giải quyết sự chống đối từ các nhân viên của các công ty và bố trí chúng theo hướng chiến lược tổng thể của tổ chức
- phân phối tư vấn một mình (nếu cần) để giảm bớt bất kỳ lo ngại nào liên quan đến refresh
- Giám sát việc thực hiện và tinh chỉnh và khi được yêu cầu
Nguồn: vi.wikipedia.org